hiên nhưng không, bỗng dõng dạc nói:
- Lượng này có một kế, chẳng nhọc công dắt dê khiêng rượu, dâng đất và nạp ấn xin hàng, cũng khỏi phải đem thân qua sông bái yết Tào Tháo. Chỉ sai vài tên quân quèn, chèo một chiếc thuyền con, đưa hai người qua cho Tào Tháo. Tào Tháo được hai người ấy rồi, trăm vạn quân cũng đều bó giáp, hạ cờ mà lui về hết.
Châu Du ngạc nhiên hỏi:
- Dùng hai người nào mà lui binh Tào được như thế?
Khổng Minh còn văn hoa nói thêm:
- Ðất Giang Ðông mất hai người ấy, tỷ như cây lớn rụng đi hai chiếc lá, kho đầy bớt đi hai hạt thóc. Còn Tào Tháo được hai người ấy thì coi quý như ngàn vàng, sung sướng vô cùng, ắt lui binh.
Châu Du càng lấy làm lạ, lại hỏi:
- Nhưng phải dùng hai người nào?
Khổng Minh khoan thai nói:
- Lúc Lượng này còn ở Long Trung, có nghe Tào Tháo lập một cái đài ở mé sông Chương Hà, gọi là đài Ðồng Tước. Ðài ấy cực kỳ tráng lệ. Tháo sai trang hoàng tô điểm lộng lẫy, rồi tuyển nhiều gái đẹp trong thiên hạ để đưa về đấy. Vả lại, Tào Tháo là đứa háo sắc, nghe nói bên Giang Ðông này có Kiều công nào đó sinh đặng hai người con gái, cô chị là Ðại Kiều, cô em là Tiểu Kiều, cả hai đều có dung nhan chim sa cá lặn với vẻ yểu điệu nguyệt thẹn hoa nhường. Nên Tào Tháo thề rằng: "Ta một là dẹp an bốn biển, lập nên Ðế nghiệp. Hai là lấy được hai nàng Kiều bên Giang Ðông đem về để vào đài Ðồng Tước, dùng vui lúc tuổi già, dầu có thác ta cũng chẳng hờn." Nay Tào Tháo tuy dẫn binh trăm vạn, lườm lườm như cọp gầm, muốn nuốt Giang Ðông, chứ thật ra chỉ vì hai người con gái ấy mà thôi. Sao Tướng quân chẳng đi tìm Kiều công, bỏ ra ngàn lượng vàng, mua lấy hai người con gái ấy, rồi đem sang sông nạp cho Tào Tháo. Tháo được hai mỹ nữ ấy, ắt hả hê vui sướng mà rút quân lập tức. Ðó là cái kế "Phạm Lãi dâng Tây Thi", nên làm ngay đi thôi!
Châu Du nghe qua, tái mặt, vặn hỏi:
- Tào Tháo muốn được hai nàng Kiều, vậy có gì làm bằng chứng?
Khổng Minh nói:
- Con trai nhỏ của Tào Tháo là Tào Thực tự là Tử Kiến, có tài hạ bút thành văn. Khi xây xong đài Ðồng Tước, Tào Tháo có sai làm một bài phú gọi là Ðồng Tước đài phú. Trong bài phú ấy, ý hắn muốn làm Thiên tử, lại thề bắt hai nàng Kiều.
Châu Du hỏi:
- Tiên sinh có nhớ bài phú ấy không?
Khổng Minh đáp:
- Vì lời văn rất hoa mỹ, tôi đọc thấy cũng thích, nên đã thuộc lòng.
Châu Du liền nói:
- Xin tiên sinh đọc thử xem nào.
Khổng Minh liền hắng giọng đọc bài " Ðồng tước đài phú" một thôi như sau:
Noi gương đức Thánh quân sáng rỡ,
Lên đài cao hớn hở mộng tình.
Xưa kia Thái Thú hòa mình,
Chăn dân đem lại thái bình nơi nơi.
Dựng lên giữa lưng trời bát ngát,
Một đài cao uy khí hiên ngang.
Trập trùng một vẻ mỹ quang,
Gác cao, hồ rộng nhìn sang hướng Ðoài.

Giòng Chương thủy chảy dài uốn khúc,
Dưới vùng cây hoa quả tốt tươi.
Hai bên sừng sững hai đài,
Ngọc long, kim phượng sáng ngời ánh dương.

Tìm hai Kiều phương Nam về sống,
Vui cùng nhau giấc mộng hồi xuân.
Trên cao nhìn xuống cõi trần,
Ðế đô mấy lớp, mây tầng bao quanh.

Mừng thấy cảnh hùng anh tụ họp,
Nhớ tích xưa, uy dũng Văn Vương.
Ðài cao, ngọn gió đưa hương,
Muôn chim chào đón, gió sương chan hòa.

Cảnh đẹp tợ một tòa cung điện,
Phúc nhà may ứng hiện về sau.
Huy hoàng vũ trụ nhiệm màu,
Hết lòng cung kính, nguyện cầu thế nhân.

Noi Tần, Tấn nghĩ mình hưng thịnh,
Phò Thánh minh cùng sánh công lao.
Ðẹp như hoa gấm, trời sao,
Ơn sâu nhuần thấm, đức cao xa đồn.

Phò tán đấng chí tôn gìn giữ,
Xây thái bình thịnh trị muôn nơi.
Phép trời không vẻ đổi đời,
Âm dương chiếu rọi, nơi nơi an hòa.

Tôn quý ấy truyền xa mãi mãi,
Vẫn trường tồn mãi với chúa Xuân.
Long kỳ ngự buổi an nhàn,
Hoặc khi vội vã, xe loan trở về.

Ơn giáo hóa tràn trề bốn biển,
Vui mừng thay quốc thái, dân an.
Ðài cao mãi mãi hiên ngang,
Ðiểm tô kim cổ son vàng thắm tươi.
Bài phú này thực ra đã bị Khổng Minh sửa đổi câu thứ bảy. Nguyên văn câu này của Tào Thực là:

Bắc hai cầu Ðông, Tây nối lại,
Như cầu vồng sáng chói không gian...

Nhưng Khổng Minh muốn chọc tức Châu Du nên đã đã đổi ra là:

Tìm hai Kiều phương Nam về sống,
Vui cùng nhau giấc mộng hồi xuân...

Châu Du nghe xong bài phú, đùng đùng nổi giận, đứng phắt dậy trỏ tay về phía Bắc, nghiến răng trợn mắt mắng lớn:
- Thằng giặc già dám khinh ta như thế à! Ta thề giết nó!
Khổng Minh làm bộ đứng dậy can:
- Xin ngày đừng nóng giận. Xưa mọi Ðơn Vu mấy phen xấm lấn bờ cõi, Thiên tử nhà Hán còn phải đem công chúa mà hòa thân thay, huống chi nay chỉ có hai người con gái của dân gian, giá đáng là bao nhiêu mà tiếc như vậy?
Châu Du uất ứ nói:
- Ông có nhiều chỗ chưa hiểu, Ðại Kiều là chính phối của Tôn Bá Phù tướng quân, còn Tiểu Kiều chính là vợ của tôi đấy!
Khổng Minh giả bộ sợ hãi, vội chắp tay nói:
- Quả tình Lượng không biết! Trót mở miệng nói càn, tội thật đáng chết! Ðáng chết!
Châu Du căm gan tím ruột, nghiến răng nói:
- Ta thề không đội trời chung với thằng Tào tặc!
Khổng Minh còn cố khích thêm một câu:
- Việc này phải nghĩ cho chính đã. Chớ nóng nảy mà hối về sau.
Châu Du hăng máu lên, nói:
- Ta vâng lời Bá Phù ký thác, lẽ nào đi uốn mình hàng giặc Tháo! Những lời ta nói hồi nãy là để thử ý nhau đấy chứ! Ngay từ lúc rời Ba Dương Hồ về đây, ta đã có chủ trương Bắc phạt rồi. Dẫu dao búa kề đầu, ta quyết không đổi chí. Mong tiên sinh giúp cho một tay, cùng phá giặc Tháo.
Khổng Minh lòng vui như mở cờ, liền nói:
- Nếu như Ðô Ðốc đã quyết lòng, tôi nguyện ra sức khuyển mã, sớm tối bày mưu dưới trướng để trừ Tào tặc.
Châu Du nói:
- Ngày mai vào yết kiến Chúa công, lập tức thương nghị việc khởi binh vấn tội Tào Tháo.
Khổng Minh và Lỗ Túc đều từ tạ Châu Du mà lui ra, rồi chia tay nhau về.
Hôm sau, trời vừa hừng sáng, Tôn Quyền thăng đường tụ tập các quan văn võ. Bên tả có bọn quan văn Trương Chiêu hơn ba mươi người sắp hàng. Bên hữu có bọn võ tướng Trình Phổ, Hoàng Cái, cũng trên ba mươi người, ai nấy đều áo mũ chỉnh tề, gươm đeo sủng soảng, theo thứ tự mà đứng.
Ðược một lát, Châu Du vào bái kiến.
Tôn Quyền hỏi thăm ủy lạo mấy lời xong, Châu Du liền hỏi:
- Vừa rồi, nghe Tào Tháo đem quân đóng nơi Hán Thượng, lại sai người đem hịch sang đây chiêu dụ. Chẳng hay tôn ý của Chúa công như thế nào?
Tôn Quyền nói:
- Văn võ nghị kế không đồng, còn ta thì chưa quyết nên mới mời Tướng quân về đây để thương nghị.
Nói rồi Tôn Quyền liền đưa tờ hịch cho Châu Du xem.
Châu Du đọc xong, rồi cười nhạt, nói:
- Tào tặc coi Giang Ðông không người sao mà dám vô lễ làm nhục chúng ta thế này?
Tôn Quyền hỏi:
- Ý khanh thế nào?
Châu Du hỏi lại:
- Chúa công đã thương nghị với các quan văn võ chưa?
Tôn Quyền nói:
- Có, nhưng kẻ thì khuyên hàng, người lại khuyên đánh, ta chưa biết nên thế nào, nên phải chờ Công Cẩn về quyết định cho.
Châu Du nét mặt hơi giận nói:
- Ai khuyên Chúa công hàng?
Tôn Quyền nói:
- Bọn Trương Tử Bố đều một ý khuyên thế.
Châu Du quay lại vặn hỏi Trương Chiêu:
- Xin cho nghe cái lý luận chủ hàng ra sao?
Trương Chiêu nói:
- Tào Tháo hiếp Thiên tử để đánh dẹp bốn phương, động một chút là lấy danh nghĩa triều đnh. Mới đây, Tào Tháo lại chiếm được Kinh châu, oai thế lừng lẫy. Giang Ðông ta chỉ trông cậy sông Trường giang để chống Tháo. Nay Tháo đã có trăm ngàn chiến thuyền, hai mặt thủy lục cùng tiến, ta chống sao nổi? Chi bằng hãy cứ cầu hàng, rồi sau sẽ tính kế.
Châu Du nói như mắng vào mặc Trương Chiêu:
- Ấy là lời luận của bọn hủ nho đó. Ðất Giang Ðông kế nghiệp đã ba đời rồi, lẽ nào không đánh một trận lại dâng cho kẻ khác?
Tôn Quyền hỏi:
- Như vậy ý khanh như thế nào?
Châu Du nói:
- Chúa công đừng lo. Tào Tháo tuy mang danh nghĩa Hán tướng, nhưng kỳ thực là Hán tặc. Với hùng tài thần võ, Chúa công nối nghiệp của cha anh, có sẳn đất Giang Ðông binh tinh lương đủ, đáng lý còn phải vùng vẫy dọc ngang thiên hạ, trừ tàn diệt bạo cho xã tắc nữa, lẽ nào lại hàng giặc bao giờ? Vả lại, Tháo đem quân đến đây, đã phạm nhiều điều kỵ của nhà binh. Nhất là phía Bắc chưa yên, Mã Ðằng, Hàn Toại đang chờ cơ hội để đánh úp Hứa Ðô, Tào Tháo lại quên mối lo ấy, kéo đi Nam chinh lâu ngày, đó làm một điều kỵ. Binh Bắc không quen thủy chiến, Tào Tháo lại bỏ yên cương xuống thuyền khai chiến với Ðông Ngô, đó là hai điều kỵ. Nay lại đến tiết đông lạnh lẽo, ngựa thiếu cỏ ăn, ấy là ba điều kỵ. Lùa hết sĩ tốt bên Trung quốc sang đây, lặn lội sông hồ, bất phục thủy thổ, bệnh tật sẽ phát sinh truyền nhiễm, đó là bốn điều kỵ. Binh Tào chịu bốn điều kỵ như vậy, dầu có mạnh đến đâu cũng không đáng lo. Lúc này chính là cơ hội để Chúa công bắt sống Tào Tháo. Du này quyết vì Chúa công, xin dẫn ít vạn quân tiến đóng nơi Hạ Khẩu mà phá tan quân giặc.
Tôn Quyền nghe xong, vùng đứng dậy, lớn tiếng nói:
- Tào Tháo là đứa nghịch thần, muốn phế bỏ nhà Hán để tự lập từ lầu, nhưng còn sợ có hai nhà họ Viên, Lữ Bố, Lưu Biểu, và Cô Gia này, nên nó chưa dám. Nay mấy tay hùng lược kia đã mất, chỉ còn một mình Cô Gia. Cô Gia thề không cùng đứng trên đời với tên giặc Tháo. Khanh nói nên đánh, rất hợp ý Cô Gia. Thật là trời đã đem khanh mà ban cho Cô Gia vậy.
Châu Du nói:
- Tôi nguyện vì Chúa công, quyết một trận huyết chiến với giặc để bảo vệ bờ cõi, dù muôn thác cũng không nề. Chỉ sợ Chúa công còn hồ nghi chưa quyết mà thôi.
Tức thì Tôn Quyền rút thanh bảo kiếm đang đeo, chém sạt một góc cái bàn trước mặt, nói:
- Từ nay nếu ai có ý muốn hàng Tào Tháo thì như cái bàn này!
Nói rồi trao cho Châu Du thanh gươm ấy, lại phong cho Châu Du làm Ðại Ðô Ðốc, Trình Phổ làm Phó Ðô Ðốc, Lỗ Túc làm Tham Quân Hiệu Úy, còn các văn quan võ tướng, ai mà chẳng tuân theo hiệu lệnh, cứ dùng gươm ấy mà chém đi hết.
Châu Du thọ lãnh gươm rồi liền quay lại nói với các tướng:
- Nay ta vâng lệnh Chúa công xuất quân đánh Tào, ngày mai các tướng phải tề tựu đủ mặt tại hành dinh ngoài bờ sông để nghe lệnh. Nếu ai trái lệnh hoặc sơ sót, cứ chiếu theo bảy điều cấm lệnh với năm mươi bốn tội tử hình trong đó mà thi hành.
Nói rồi Châu Du liền từ tạ Tôn Quyền, ra khỏi Tướng phủ, còn các quan văn võ cũng đều làm thinh, ai về dinh nấy.
Châu Du về dinh sai người mời Khổng Minh đến bàn việc.
Khổng Minh vừa đến nơi, Du hỏi:
- Hôm nay cuộc công nghị tại Tướ